Skip to content

Johnny bất thường – Thảm họa V-pop

July 23, 2011

Johnny bất thường – Thảm họa V-pop

Vài loan với Thảm họa V-pop mới – Johnny bất thường

Startup SEO for Brand Building

July 20, 2011

Startup SEO for Brand Building

Đây là một video cuộc nói chuyện giữa Rand Fishkin (Co-Founder & CEO) của SEOmoz, trang web hàng đầu về SEO và Andrew Warner (Founder & CEO) của Mixergy. Chủ đề của video là: Startup SEO for Brand Building Hi vọng video này sẽ giúp ích được cho các bạn tìm hiểu cách xây dựng thương hiệu thông qua SEO

Điểm qua 1 số section như sau:
– Section 1: Introduction & Finding The Best Keywords
– Section 2: On-Page Optimization
– Section 3: Creating A Funnel
– Section 4: Outranking Big Dogs
– Section 5: Tools for Measurement & Conclusion

Video dài 45 phút 30 giây, nghe khá rõ. Do trình độ tiếng anh kém nên cũng chưa nghe hiểu hết tất cả. Dù sao cứ share ra trước đã.

Mã:
http://www.megaupload.com/?d=CL9538A5
http://www.filesonic.vn/file/1135018154
http://www.fileserve.com/file/7Tvuvtr

Google Plus

July 13, 2011

Google Plus

Google+ là một sản phẩm đầy uy quyền và tham vọng nhưng những điều này là chưa đủ. Có những yếu tố về hiệu ứng thương hiệu trong cuộc chơi này nhưng để đạt được thành công, Google+ không được nhỉnh hơn mà phải thật sự tốt hơn.
Sau đây là nhận định của Rakesh Agrawal về “làn gió mới” Google+.
Rakesh Agrawal là một nhà chiến lược về sản phẩm và tiếp thị. Ông đã dành 15 năm làm việc trong lĩnh vực Web và truyền thông di động. Các lĩnh vực chuyên môn của ông bao gồm tìm kiếm, mạng xã hội, lập bản đồ, thanh toán và các công nghệ không dây. Ông đã sáng tạo ra rất nhiều sản phẩm cho Tellme- công ty con của Microsoft, AOL Search, washingtonpost.com và newsweek.com. Trong thế giới của những start-ups (các công ty mới khởi nghiệp), ông làm việc tại công ty công nghệ uReach. Ông đã tạo ra một trong những tờ báo đại học trực tuyến đầu tiên vào năm 1993, tờ Daily Northwestern. Năm 1995, ông đưa ra một trong những tờ báo trực tuyến thương mại đầu tiên, startribune.com.
Rocky có 6 phát minh về công nghệ tìm kiếm và mạng xã hội đang chờ được cấp bằng sáng chế.
Tôi thích sáng tạo. Bạn có thể tìm thấy nội dung mà tôi tạo ra trên các blog riêng của tôi, TechCrunch,FacebookTwitter, Flickr, Quora, EveryTrail, Namesake, Yelp, foursquare, YouTube, disqus, Kindle, FlyerTalk, và bây giờ là Google+. Tôi tạo ra những bài viết nhiều hơn đại đa số những người sử dụng Internet.
Tôi thường chủ động suy nghĩ về việc làm thế nào tạo ra những nội dung hay và tìm kiếm khán giả phù hợp cho nó. Khi tôi đi bộ đường dài, tôi chụp ảnh con đường, những cái dĩa, và những thứ khác mà có vẻ ngoài tưởng như nhàm chán. Tôi cũng mang theo thiết bị định vị GPS để có thể gắn thẻ địa lý chính xác cho từng hình ảnh (geotag). Tôi làm điều này vì nó có giá trị cho những người sử dụng EveryTrail trong việc xác định làm thế nào để băng qua đường mòn. Khi tôi tải những hình ảnh này lên Facebook, các thẻ định vị này lại không được hiển thị.
Với mức độ kiểm soát mà Google+ cho phép, đáng nhẽ tôi phải vui mừng với công cụ mới tuyệt vời này. Nhưng không.
Nó giải quyết sai vấn đề, đặc biệt với Google Circles, tính năng của Google+ cho phép bạn chia sẻ những điều khác nhau với những nhóm người khác nhau. Có thể nói Google+ đã không làm bất cứ điều gì để giải quyết vấn đề lớn nhất của các mạng xã hội ngày nay: thông tin gây nhiễu đang vùi lấp những thông tin chính.
Tiếp cận đúng đối tượng
Google đã hoàn toàn đúng khi nói rằng có nhiều vòng quan hệ xã hội (circles) trong cuộc sống mỗi con người. Quả thật, cuộc sống của tôi cũng có nhiều vòng như vậy. Cách mà tôi giải quyết vấn đề này cho đến nay là sử dụng các mạng xã hội khác nhau cho những mối quan hệ khác nhau (social circles). Tôi rất cẩn thận trong việc sắp xếp các mối quan hệ vào các nhóm khác nhau. Ví dụ:
*Facebook. Thông thường tôi phải gặp bạn ngoài đời và sau đó mới xem xét đưa bạn trở thành một người bạn theo nghĩa rộng. Điều này bao gồm cả bạn bề ngẫu nhiên, đồng nghiệp trong quá khứ và hiện tại, bạn cùng lớp, bạn bè của bạn. Tôi không chấp nhận yêu cầu kết bạn từ người lạ hoặc những người tôi chỉ gặp một lần tại một hội nghị nào đó.
*Twitter. Rõ ràng là ai cũng được chào đón để theo (follow) tôi. Tôi sẽ theo (follow) những người tham gia vào những chủ đề mà tôi quan tâm.
*Foursquare. Tôi giới hạn Foursquare cho những người bạn mà tôi đã gặp và thích dành nhiều thời gian cho họ. Trong số những bạn bè của tôi trên Facebook, những người mà cũng có tài khoản Foursquare, tôi chỉ kết bạn với một nửa trong số họ trên Foursquare.
*LinkedIn. Tất cả đều liên quan đến tìm kiếm một công việc, phát triển kinh doanh và tuyển dụng. Tôi chấp nhận yêu cầu kết bạn trên LinkedIn từ những người tôi đã làm việc cùng, đối tác công ty, những người tôi gặp tại các hội nghị…
Sự tách biệt này giúp tôi có thể đảm bảo rằng nội dung chỉ được chia sẻ với những đối tượng thích hợp. Tôi không phải lo lắng về việc bảo mật thông tin. Tôi cũng không phải lo lắng về việc bắt những người bạn tôi đọc những nội dung không phù hợp với họ. Ví dụ, hầu hết các nội dung trên Groupon không được tôi đăng trên facebook bởi vì những người bạn- không- qua -Internet của tôi hầu như không hề quan tâm đến chúng. Tôi biết rằng nếu tôi đăng thông tin nào đó trên Twitter, nó sẽ được chia sẻ với cả thế giới.
Tôi có thể phân loại nội dung trên Google+. Đối với mỗi bài viết, tôi có thể chọn chia sẻ chúng với nhóm bạn “Kinh doanh” ( “Business”), “những người nổi tiếng trên Internet” ( “Internet famous”) và loại trừ nhóm “Bạn bè cá nhân” ( “Personal friends” ). Nhưng việc này đòi hỏi suy nghĩ nhiều hơn so với việc đăng tải thông tin kinh doanh lên Twitter và những thông tin cá nhân lên Facebook.
Khi mọi người so sánh Circles của Google với Facebook, họ thường nghĩ tới lists (mà hầu như không ai sử dụng.) Nhưng Google lại quên mất networks, công cụ quan trọng nhất để phân loại nhóm người sử dụng. Trường học và công việc là hai nhóm lớn nhất. Nếu tôi muốn chia sẻ thông tin nào đó chỉ với mạng Northwestern trên Facebook, đó là một nhóm bạn. Rất tiện lợi là tôi không cần phải xếp từng người trong mạng này vào một nhóm nữa.
Đối với những người quan tâm đến phân khúc mà Google + cung cấp, Google đã sử dụng networks để làm điều đó.
Mạng lưới chuyên ngành như EveryTrail cung cấp công cụ thú vị cho việc hiển thị dữ liệu. Tôi yêu sự hiển thị trực quan này của chuyến đi của tôi từ Portland đến Juneau. May mắn là Google + đã không loại trừ công cụ hữu ích như thế này.
Các platforms như là Quora, Namesake hay disqus cho phép tôi tiếp cận lượng khán giả rộng lớn hơn. Google+ thì không tổng hợp khán giả cho tôi xung quanh các chủ đề khác nhau.
google plus Google+ và sự va chạm của những vòng tròn
Như một người sáng tạo ra nội dung, phần thưởng lớn đối với tôi là sự tương tác với những người tiêu thụ nội dung mà tôi tạo ra. Tôi đã viết về Google+ trên Twitter và Techcrunch nhiều hơn trên Google+ bởi mọi người vẫn đang sử dụng những platforms này. Từ giờ cho đến khi tôi có một lượng khán giả trên Google+, không có lý do gì để bây giờ tôi không sử dụng những mạng xã hội có từ trước. (Đặc biệt là bởi những người đã theo (follow) tôi từ các kênh khác sẽ phải thấy những nội dung trùng lặp). Nhưng nếu tôi không đăng bài trên Google+, tôi không thể dần dần xây dựng lượng khán giả cho mình.
Sự va chạm của những thế giới
Thế giới vật chất có những môi trường khác nhau. Chúng ta đi chơi với bạn bè tại những quán bar và nhà hàng. Chúng ta nghe những người quan trọng nói trong các giảng đường hoặc thính phòng. Sự phân biệt như thế này cũng có cả ở thế giới trực tuyến. Facebook có thể được coi như là một quán bar hay nhà hàng ngay cạnh nhà. Nó được xây dựng dựa trên các mối quan hệ qua lại hay đối ứng (reciprocal relationships). Twitter như là một giảng đường. Nó chỉ tập trung vào các mối quan hệ bất đối xứng (asymmetric relationships). Twitter thậm chí đã thừa nhận rằng nó hoàn toàn đống ý nếu mọi người coi nó như một phương tiện xuất bản chứ không phải một phương tiện truyền thông.
Vì vậy mà có vẻ như sự hỗn độn sẽ xảy ra khi mà mọi vai trò khác nhau đều quy tụ vào một Google+. Tôi sẽ thấy thông báo về kế hoạch đi du lịch của người bạn Wanita của tôi bên cạnh những hình ảnh từ cuộc phiêu lưu lướt ván diều tại Alaska của Larry Page. Nếu tôi bình luận về kế hoạch du lịch của Nita, tôi tin tưởng rằng tôi sẽ nhận được phản hồi nào đó. Nhưng điều này gần như là không thể khi tôi bình luận về chuyến đi của Larry. (Với những người không biết về điều này, tôi và Larry cũng đã cùng học một lớp ở trường trung học- chúng tôi đã thường tranh luận về Amiga so với Mac và về Googol.) Tôi không thể nghĩ ra một thế giới thực tương đương nơi mà bạn có những mối quan hệ chênh lệch như thế này.
Ai cũng hiểu tầm quan trọng của việc giữ những thế giới khác nhau biệt lập với nhau.
Tìm kiếm, không phân loại
Google đã dạy chúng ta lười biếng.
Trước khi trình duyệt tìm kiếm trở nên phổ biến, tôi thường tự duy trì một danh sách các bookmarks. Các bookmarks đều được phân loại cẩn thận và tôi đã dành rất nhiều thời gian để làm việc này. Những từ khóa được truy cập nhiều nhất trên bất kỳ công cụ tìm kiếm nào là những thuật ngữ như “ebay”, “amazon” và “facebook” bởi vì mọi người đã dựa vào các công cụ tìm kiếm để làm mọi việc. Bạn thậm chí không cần biết cách viết đúng chính tả của các từ ngữ này. Tôi đổ lỗi cho Google về việc tôi không biết cách đánh vần từ Albuqerque mặc dù tôi đã có nhiều chuyến đi đến đây.
Trước khi có Gmail, tôi siêng năng phân loại các bức thư điện tử của mình. Đây là cách duy nhất để tôi có thể tìm kiếm lại một thông tin nào đó khi tôi cần. Bây giờ khi tôi muốn tìm lại cái biên lai mua máy ảnh của mình, tôi chỉ việc gõ “Amazon Nikon” vào mục tìm kiếm của Gmail. Điều này cũng đúng cho các địa chỉ liên lạc. Số điện thoại và thông tin liên lạc của tôi nằm bên dưới hầu hết các email mà tôi gửi. Nếu ai đó cần những thông tin này, họ chỉ việc tìm lại bức thư mới nhất của tôi.
Khẩu hiệu của Gmail là “tìm kiếm, không phân loại”.
Bây giờ Google lại nói với chúng ta rằng để sử dụng sản phẩm mới của hãng này, chúng ta phải tự phân loại một cách thủ công từng người bạn của mình. Sự kì diệu của thuật toán nổi tiếng của Google đã không áp dụng được ở đây (tôi chắc chắn đây là một phần hệ quả của tai tiếng xâm phạm riêng tư từ trước đó gây ra bởi Buzz và StreetView).
Có nhiều cách để bạn bè được phân loại một cách tự động mà không phải lo lắng về sự xâm phạm riêng tư cá nhân. Google+ có thể áp dụng sự phân loại đối với một mối quan hệ đã được phân loại trong Gmail chẳng hạn. Hoặc Google có thể đưa ra những sự gợi ý dựa trên các tài khoản liên quan (trên Twitter hoặc Quora).
Vấn đề chưa được giải quyết của mạng xã hội
Google+ vẫn chưa giải quyết được vấn đề lớn nhất trong mạng xã hội: phân loại tín hiệu khỏi sự gây nhiễu. Twitter thậm chí còn không muốn thử giải quyết vấn đề này. Facebook thì có khá hơn một chút.
Việc thiếu những công cụ chất lượng để tách tín hiệu ra khỏi thông tin gây nhiễu đang hạn chế việc sáng tạo nội dung. Các mối quan hệ con người là rất đa chiều và phân loại thủ công ở cấp độ cá nhân là không đủ. Tôi tạo ra nội dung về rất nhiều chủ đề, bao gồm mạng xã hội, di động, các giao dịch hàng ngày, những chuyến du lịch, những cuốn sách tôi đọc và rất nhiều điều khác. Nhưng ví dụ như khi tôi đọc cuốn Onward, tôi chia sẻ ít hơn vì tôi không muốn làm nhiễu luồng thông tin của mọi người. Nếu tôi làm phiền mọi người nhiều, họ có một công cụ rất mạnh mẽ để khắc phục: đó là hủy đăng ký hoàn toàn. Vì vậy tôi phải hạn chế những bài đăng của tôi, chỉ đăng những bài thật chất lượng.
Một người mà tôi theo (follow) trên Twitter thường xuyên có rất nhiều bài đăng. Tôi quan tâm đến những nội dung ông ta viết về kinh doanh, công nghệ và hàng không. Nhưng tôi không hề quan tâm đến những mẩu tin về Chicago của ông ta. Nhưng cho đến nay, tôi vẫn chưa thể tìm thấy một công cụ tự động giúp tôi bỏ qua những tin đó.
Tách tín hiệu ra khỏi thông tin nhiễu và xếp hạng những mẩu thông tin vẫn là một vấn đề lớn trong xưởng sản xuất của chàng khổng lồ Google. Theo tôi, Quora là công ty duy nhất đã giải quyết được khá tốt một phần của vấn đề này bằng cách khuếch đại tín hiệu.
Vậy Google+ đã giải quyết được vấn đề gì?
Quy tắc đầu tiên của tôi về thiết kế sản phẩm là: con người vốn lười biếng, vô ích và ích kỷ. Google+ đã thất bại trong bài kiểm tra đầu tiên này.
Google+ là một sản phẩm đầy uy quyền và tham vọng. Nếu nó được đưa ra 3 hoặc 4 năm về trước, tôi sẽ là một fan hâm mộ lớn của nó. Có những tính năng của Google+ mà tôi thực sự thích như là trình xem ảnh (photo viewer) và video chat (Hangouts).
Nhưng những điều này là chưa đủ. Trong mạng xã hội, Google chỉ đang ở vị trí tương đương như những người chơi khác trong không gian tìm kiếm (Search space). Cũng có những yếu tố về hiệu ứng thương hiệu trong cuộc chơi này. Để đạt được thành công, nó không được nhỉnh hơn mà phải thật sự tốt hơn.
Một người bạn hỏi tôi rằng vậy Google+ đã giải quyết được vấn đề gì. Tôi chỉ có thể trả lời rằng đó là việc Google đã không mua Twitter cách đây 3 năm.
Theo Daotaoseo.vn
Tham khảo thêm về Google+ tại bài viết hướng dẫn sử dụng Google+

Conversion Rate là gì?

July 13, 2011
     Như các bạn cũng biết, PR bây giờ không có giá trị nữa. Thay vào đó, rất nhiều Webmaster đều đang quan tâm tớiConversion rate (Tỷ lệ chuyển đổi), Bounce rate (Tỷ lệ thoát) và Clickthrough (Tỷ lệ nhấp chuột).
     Hôm nay chúng ta sẽ nghiên cứu Conversion Rate.
https://i1.wp.com/d.f6.photo.zdn.vn/upload/original/2011/07/11/1/44/131032348063942075_574_574.jpg

     Nếu website của bạn là web bán hàng, thì Conversion Rate là tỷ lệ khách vào thanh toán mua hàng, nếu là website download thì là tỷ lệ get link, nếu site của bạn chia sẻ video, thì CR là tỷ lệ xem video .v.v. và một site bạn có thể thiết lập nhiều Conversion Rate khác nhau. Nói một cách khác thì Conversion Rate còn gọi là tỷ lệ chuyển đổi của website. Sau đây là phương pháp kiểm tra Conversion Rate:  
Bước 1: Chuẩn bị các công cụ
  • Google Analytics – dùng để thống kê dữ liệu web
  • SEOBook’s Rank Checker – công cụ kiểm tra xếp hạng từ khóa (keyword ranking) trên Google. Download tại đây
  • Microsoft Excel
Bước 2: Khai thác từ khóa của website
  • Hãy đăng nhập vào tài khoản Google Analytics –> Traffic Sources –> Search Engines .Sau đó chọn vào Google trong danh sách đó.
  • Thiết lập khuôn khổ thời gian lấy dữ liệu là 3-4 tháng (date range) (dưới 1 tháng không đủ cung cấp 1 lượng dữ liệu tổng hợp đầy đủ). Sau đó Google Analytics sẽ hiện ra những keywords Google mang khách truy cập đến cho bạn.
  • Vào phần Goal Conversion –> Goal Conversion Rate để sắp xếp từ khóa theo thông số Conversion Rate từ trên xuống dưới
  • Để dễ quan sát và khai thác dữ liệu, bạn chọn Tính năng hiển thị 100 dòng Show rows = 100 ở cuối trang.
  • Chọn “Export” ở phía đầu trang để xuất dữ liệu sang định dạng file “CSV for Excel”
  • Bạn vào Excel mở file CSV vừa rồi, chú ý vào 3 nội dung chính là: từ khóa, số lần Visitor và tỷ lệ Conversion rate
Bước 3: Kiểm tra xếp hạng
Tiếp theo chúng ta sẽ cùng tìm hiểu xem ứng với mỗi từ khóa website của bạn đang xếp ở hạng mấy. Chắc bạn cũng phải đồng ý với mình, biết được thực lực ta đang ở đâu vô cùng cần thiết với người làm SEO.

Hãy dùng SEOBook’s Rank Checker, hãy chọn Nhập nhiều từ khóa “Add MultiKeywords”
  • Nhập domain của bạn
  • Copy và Paste 100 từ khóa ta vừa khai thác được từ Google Analytics vào Rank Checker
  • Chạy rank checking
  • Lại xuất dữ liệu ra file CSV
  • Copy bảng số liệu vừa xuất ra gán vào file thống kê phía trên sao cho khớp các từ khóa.
Bước 4: Phân tích dữ liệu
Dữ liệu thô trong tay bạn đã có đầy đủ, bạn muốn khai thác thế nào tùy bạn, theo mình các thông số quan trọng nhất là Từ khóa Keywords, Lượt truy cập Visits, tỷ lệ Conversion rate, Google Position và Google URL. Hãy sắp xếp lại bảng dữ liệu theo xếp hạng (Google position) và sau đó theo Conversion rate. Hãy quan sát những từ khóa đánh giá đồng thời 2 yếu tố
  • Có ranking thấp
  • Có tỷ lệ conversion cao
Ví dụ như một từ khóa đứng thứ #15-20 (tức là nằm mãi tận trang hai –> ranking thấp) chỉ kiếm được vài chục khách mỗi tháng (visit) và tỷ lệ conversion rate lại tầm 20% thì bạn nên tập trung vào từ khóa đó mà SEO và marketing trực tuyến. Đảm bảo sẽ tăng doanh thu bán hàng. Ngược lại bạn cũng có thể so sánh, giữa hiệu quả của những từ khóa đứng thứ #1 (top 1) và các từ khóa đứng thấp hơn về doanh thu bán hàng để có chiến lược cho hợp lý và thành công.

Nguồn: 
Egoldviet.com

Google Plus trên điện thoại di động

July 10, 2011

Google Plus trên Mobile
Làm thế nào dùng Google Plus để có thể chia sẻ cuộc sống thực trên điện thoại di động của bạn. Xem chi tiết tại google.com/mobile/+

Tin từ Daotaoseo.vn

Quảng cáo tìm kiếm tại VN: Sơ khai nhưng tiềm năng

July 10, 2011
(Dân trí) – Dung lượng thị trường quảng cáo tìm kiếm Việt Nam vào khoảng 100 triệu USD. Hiện tại, năm 2010 doanh số ngành mới chiếm khoảng 5 triệu USD. Vì vậy có thể nói tiềm năng thị trường còn rất lớn.
Đó là nhận định của các chuyên gia quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam về thị trường quảng cáo bằng từ khóa, hay còn gọi là quảng cáo tìm kiếm.
“Thời kỳ trứng nước”
Quảng cáo trực tuyến của Việt Nam đang phát triển với tốc độ nhanh. Theo thống kê của công ty nghiên cứu thị trường Cimigo, năm 2010, tổng doanh thu quảng cáo trực tuyến  Việt Nam đạt khoảng 500 tỷ đồng, tăng trưởng gần 80% so với doanh thu năm 2009 (278 tỷ đồng). “Nếu so với tốc độ tăng trưởng doanh thu 15% của thị trường quảng cáo trực tuyến Mỹ năm 2010 (26 tỷ USD)  thì tốc độ tăng trưởng của thị trường quảng cáo trực tuyến Việt Nam khá ấn tượng”, ông Nguyễn Minh Quý – Giám đốc điều hành Nova Ads – nhìn nhận.
 
 
Quảng cáo tìm kiếm đưa doanh nghiệp và sản phẩm lên vị trí cao trong danh sách kết quả search của Google (SEM + SEO)

 
Tuy nhiên, xu hướng quảng cáo bằng từ khóa trên các công cụ tìm kiếm, như Google, Yahoo, tại Việt Nam vẫn còn ở giai đoạn sơ khai. Theo thống kê đến tháng 4/2011 của Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC), Việt Nam hiện có 28,3 triệu người sử dụng Internet, trong đó có 91% sử dụng các công cụ tìm kiếm để tìm thông tin và các sản phẩm. “Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam chưa khai thác đến kênh quảng cáo từ những công cụ này”, ông Quý nhấn mạnh.
Tại Mỹ, quảng cáo tìm kiếm là hình thức quảng cáo trực tuyến phổ biến nhất, chiếm 46% doanh thu ngành (12 tỷ  USD/năm 2010). Tuy nhiên, tại Việt Nam, quảng cáo tìm kiếm mới chỉ chiếm khoảng 20% doanh thu ngành tức khoảng 100 tỷ /năm 2010.
Đặc điểm của quảng cáo theo từ khóa tìm kiếm là chi phí được tính theo từng lần nhấp chuột (click). Chi phí mà doanh nghiệp phải trả sẽ tính theo số lượt click chuột vào quảng cáo.
Nói về tiềm năng của thị trường quảng cáo tìm kiếm tại Việt Nam, ông Quý chia sẻ dung lượng thị trường quảng cáo tìm kiếm Việt Nam vào khoảng 100 triệu USD. Hiện tại, năm 2010 doanh số ngành mới chiếm khoảng 5 triệu USD. Vì vậy có thể nói tiềm năng thị trường còn rất lớn.
“Thị trường quảng cáo tìm kiếm Việt Nam đang phát triển trong giai đoạn sơ khai nhưng sẽ đi theo những xu hướng chủ đạo của thế giới, đặc biệt là các thị trường đạt độ chín như thị trường Mỹ”, ông Quý tỏ ra lạc quan. “Vì vậy, có thể tin tưởng rằng trong những năm tới, Quảng cáo tìm kiếm Việt Nam có thể tăng trưởng với tốc độ trên 100% một năm”. 
Lợi thế của quảng cáo tìm kiếm
Dịch vụ quảng cáo tìm kiếm giúp doanh nghiệp tiếp cận đúng khách hàng mục tiêu tại đúng thị trường vào đúng thời điểm họ có nhu cầu. Ưu điểm của quảng cáo tìm kiếm còn ở khả năng tùy biến dễ dàng và miễn phí nội dung quảng cáo. Đồng thời, quảng cáo tìm kiếm cho phép doanh nghiệp nắm được chính xác tính hiệu quả của dịch vụ thông qua Bản báo cáo mỗi  ngày. Báo cáo giúp các doanh nghiệp có cái nhìn sâu sắc về chiến dịch nhằm tối ưu chiến dịch quảng cáo và nâng cao hiệu quả thu hút khách hàng.
Tuy nhiên, theo ông Quý, để triển khai quảng cáo tìm kiếm hiệu quả, doanh nghiệp cần chuẩn bị một website tốt với nội dung phong phú, có tính độc đáo, minh bạch và dễ định hướng với người dùng. Việc lựa chọn từ khóa để quảng cáo cần đảm bảo từ khóa đó thể hiện người tìm kiếm là người có nhu cầu về sản phẩm và dịch vụ doanh nghiệp cung cấp. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần phân tích hành vi của người truy cập vào website thông qua quảng cáo tìm kiếm nhờ công cụ Google analytics – một công cụ miễn phí của Google. Qua đó, doanh nghiệp sẽ kiểm soát và tối ưu được hiệu quả của chiến dịch quảng cáo tìm kiếm.
Một trở ngại khiến các doanh nghiệp còn lăn tăn với quảng cáo tìm kiếm chính là tính hiệu quả của quảng cáo không thể nhìn thấy ngay lập tức như các kênh quảng cáo khác, nhanh nhất là 3 tháng còn bình thường là từ 6-9 tháng. Theo tìm hiểu của Dân trí, hầu hết doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đang chọn quảng cáo tìm kiếm như là kênh quảng cáo thứ cấp, nhằm xây dựng thương hiệu và sản phẩm một cách bền vững.
Khôi Linh – Dân trí

Đường đến Google Plus

July 10, 2011
Đường đến Google Plus
Chậm chân hơn Facebook và Twitter đến nhiều năm nhưng có vẻ như Google đang bắt đầu “lấn lướt” trong cuộc đua với các mạng xã hội với dịch vụ thử nghiệm Google+. Tuy nhiên, ngược thời gian có thể thấy gã khổng lồ Internet đã mất 7 năm để tạo được dấu ấn này.
Trước khi Google+ ra đời, Google đã trải qua 7 năm gian nan trong công cuộc chinh phục người dùng mạng xã hội.
 Google đã gia nhập cuộc đua trên thế giới mạng xã hội từ nhiều năm qua, nhưng chưa bao giờ nhà cung cấp dịch vụ tìm kiếm này tạo được hiệu ứng tốt. Cùng nhìn lại chặng đường 7 năm gian nan của Google trước khi Google+ ra đời. Liệu mạng xã hội mới nhất của Google được đánh giá là “bom tấn” có thể “vượt mặt” Facebook với hơn 500 triệu thành viên?
2004 – Orkut: Google đã tung ra mạng xã hội từ lâu trước khi bạn biết đến Facebook. Orkut lặng lẽ ra mắt từ 7 năm trước để cạnh tranh với Friendster. Tuy nhiên, mạng xã hội này trầm lắng tại Mỹ và ở hầu khắp các nước trên thế giới. Mặc dù vậy, Orkut lại là mạng xã hội “vua” ở một số nước, điển hình như Brazil. Điều thú vị là sau 7 năm, Orkut vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm (Beta).
2006 – Gchat trong Gmail: Tưởng như việc tích hợp Gchat trong webmail nổi tiếng của Google là một điều rất đơn giản nhưng chính động thái này là một trong những bước đi đúng đắn của Google để đưa sản phẩm cốt lõi của mình trở nên xã hội hơn.
2007 – OpenSocial: Không chọn giải pháp “khai sinh” lại mạng xã hội mà Google lại tìm cách thử nghiệm nhiều mạng xã hội cùng tồn tại song song, giống như MySpace, LinkedIn, và Friendster hoạt động trên nền tảng mã nguồn mở. Tuy nhiên, sáng kiến này một lần nữa lại mang lại nỗi thất vọng cho Google. Dự án xã hội mở (OpenSocial) nhanh chóng bị vùi vào quên lãng trước sức lan tỏa của Facebook.
2008 – FriendConnect: Mạng xã hội mang tính chiến lược tiếp theo của Google là FriendConnect. Dịch vụ này hoạt động như một widget, cho phép các quản trị mạng chèn mạng xã hội của mình trên website của họ. Tuy nhiên, số lượng website sử dụng FriendConnect giảm nhanh chóng và đến thời điểm này chỉ còn chừng khoảng 138.000 site trên khắp thế giới tích hợp dịch vụ này.
2008 – Lively: Lời đáp trả của Google với mạng xã hội Second Life chính là Lively. Mạng xã hội này được thử nghiệm chỉ chưa đầy 6 tháng và đến ngày 31/12/2008 thì chính thức bị “khai tử”.
Tháng 2, 2009 – Latitude: Google Latitude ra đời nhằm cạnh tranh với dịch vụ FourSquare. Tuy nhiên, đến thời điểm này đối thủ của Latitude vẫn là công cụ dẫn đường tốt nhất. Latitude không thể nào đuổi kịp FourSquare nhưng giới công nghệ tin chắc công cụ này sẽ trở thành thành phần chính của Google+.
Tháng 5, 2009 – Google Wave: Ngày ra mắt, Wave được tin là sẽ tạo ra cuộc cách mạng trong môi trường liên kết thời gian thực. Tuy nhiên, mọi chuyện không dễ dàng như Google tưởng.
Tháng 8, 2009 — Social Gadgets cho iGoogle: Google lại tiếp tục thất bại với chiến lược phát triển widget cho mạng xã hội giống như FriendConnect, với một loạt trò chơi và ứng dụng tương tác trên trang chủ được cá nhân hóa iGoogle.
Tháng 2, 2010 – Google Buzz: Buzz là lời đáp trả cho những dịch vụ, như Digg và làn sóng chia sẻ link trên Facebook, Twitter. Tuy nhiên, dịch vụ này chưa bao giờ “bốc lửa”, và rất có thể nó sẽ được “hồi sinh” trên Google+.
Tháng 2, 2010 – Aardvark: Mạng xã hội mà Google mua lại từ đầu năm 2010 chưa một lần được “tỏa sáng”, hiện dịch vụ này vẫn được lưu trong Google Labs để chờ ngày xuất hiện trên Google+.
Tháng 10, 2010 – Social Search: Đây là nỗ lực của Google nhằm thu thập các dữ liệu quan trọng trên kho tàng mạng xã hội. Google tin tưởng công cụ tìm kiếm từ mạng xã hội sẽ là một cuộc cách mạng trên thị trường search. Nhiều người dùng Google đã trở nên quen thuộc với những kết quả tìm kiếm này, nhưng cũng không ít người hoan nghênh.
Tháng 8, 2010 – Slide: Google mua lại công ty sản xuất game cho mạng xã hội Slide từ cách đây hơn 1 năm, nhưng gã khổng lồ này chưa hề đề cập đến dự án nào liên quan đến Slide.
Tháng 7, 2011 – Google+: Mặc dù mới chỉ là phiên bản thử nghiệm giới hạn nhưng Google+ đã tạo được những hiệu ứng tốt. Google+ có tiềm năng sẽ là đối thủ của Facebook. Có vẻ như Google đã lĩnh hội từ những thất bại trước đó trong nỗ lực phát triển mạng xã hội.
Theo Dân trí
Google+ là một sản phẩm đầy uy quyền và tham vọng nhưng những điều này là chưa đủ. Có những yếu tố về hiệu ứng thương hiệu trong cuộc chơi này nhưng để đạt được thành công, Google+ không được nhỉnh hơn mà phải thật sự tốt hơn.